Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Bố Tôi, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Bố Tôi, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Kiệt (Nguyễn)
Thứ Sáu, Ngày 18/06/2010
Lời mở đầu: Một vài ngày nữa Ngày lễ của Cha lại trở về. Một văn hào đã viết “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó!”
Tình cha nhiều người cho rằng không đằm thắm bằng tình mẹ, có lẽ chỉ vì người cha ít chịu diễn tả mà thôi. Thật ra tình cha như nền móng của căn nhà, giá trị của nó là phần nằm sâu dưới mặt đất.
Nhiều người còn ví tình cha như miếng cam thảo, phải ngậm lâu mới ra chất ngọt.
Riêng người Việt ly hương chúng ta, Ngày Của Cha (Father’s Day) thường rơi đúng vào ngày kỷ niệm Quân Lực VNCH 19 tháng 6 mỗi năm.
Nhớ lại hình ảnh những người trai thời chinh chiến, vừa làm người lính ôm súng gìn giữ quê hương, vừa phải lo cho gia đình chu toàn bổn phận làm cha. Nên người cha trong đất nước khói lửa, hầu như phải hy sinh tình nhà nhiều.
Nhưng không vì thế mà tình cha không đậm đà. Nhân ngày Quân Lực và Ngày Của cha, Hải Lê xin đóng góp một câu chuyện nhỏ kể theo Angie Kucer, nhằm vinh danh những người cha bất hạnh, hy sinh nhiều, nhưng nhận… chẳng có bao nhiêu!
Nhất là những người đã nằm xuống để vợ con, đồng bào mình được sống mãi mãi.

Hình trái: Hạnh phúc còn lại của Nhiếp ảnh viên Nguyễn Ngọc Hạnh
Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một người lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe, cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim… vv…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.
Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678… (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắt là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại).
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.
Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”
Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn…
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.
Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác, tôi bỏ theo chiếc hộp kỷ niệm đời lính vào hòm cho bố, còn những chiếc khăn giấy tôi sẽ giữ mãi bên cạnh cả cuộc đời tôi.
Bây giờ thì những chiếc khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.
Happy Father’s Day
Mừng Ngày Của Bố
Mừng ngày Quân Lực 19/6/2010
Nguồn nguoivietboston.com
 

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

Hạt Cỏ Cà Ri METHI Thuốc Trị Tiểu Đường




Thuốc trị tiểu đường


Chào các bạn,
Trúc có người quen ở bên Virginia bị bệnh tiểu đường nặng, 2 chân sưng đi không được, sắp phải lọc thận mà nhờ uống nước trà pha từ hột Methi Seeds này mà lành bệnh. Bây giờ bác đó đã đi đứng ăn uống bình thường, không cần uống và chích thuốc tiểu đường nữa. Họ vừa chỉ cho, nên Trúc vội đưa lên đây . Mong các bạn nào đang bị bệnh tiểu đường thì thử xem có kết quả không. Nếu có kết quả tốt giảm hay lành được bệnh tiểu đường thì nhớ thông báo cho tất cả biết để phổ biến rộng rải hơn.
Thân quý,

BTrúc

Đây là toa thuốc:
METHI SEEDS TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG.

[image001.jpg]

- 1 muổng nhỏ (muổng cà phê) hột methi seeds cho vào bình thủy nước sôi, (pha như pha trà ) rồi chế ra uống như uống trà cả ngày. Uống hết nước đầu thì chế thêm nước sôi pha lần thứ 2 cho đến khi nào hột methi seeds nhạt hết, không còn mùi vị thì đổ xác đi.

Mỗi ngày pha uống 1 muỗng nhỏ thôi. Uống chừng 2, 3 ngày là có kết quả, nhưng vẫn tiếp tục uống như uống nước trà mỗi ngày. Khi nào hết bệnh thì bớt lại pha nửa muỗng methi seeds thôi.

Trong thời gian uống nước Methi seeds này, đường có giảm nhưng phải cẩn thận. Vẫn cố gắng kiêng cử và tập thê dục đều.

Note: Các bạn có thể mua hạt methi seeds ở các tiệm Ấn Độ (Indian grocery) Trúc cũng vừa search là bài báo dưới đây. Gửi các bạn đọc thêm tài liệu:

Methi seeds help bring down blood glucose level
Anuradha Mascarenhas
Trust the good old green leafies to come to the rescue. For millions of diabetics, hope comes in the form of fenugreek (methi) seeds. Scientists at the Pune-based National Centre for Cell Science (NCCS) have prepared a novel formulation from extracts of fenugreek seeds that helps bring down the blood glucose level in the body and hence proves to be a boon for diabetic patients.

Scientists realized that to manage a chronic disease such as diabetes, it was pertinent to test the sustained lowering of blood glucose levels for a long period of time. Their research demonstrated the anti-diabetic potential of the formulation that remained effective for a longer period of time.

The encouraging results have now led a herbal medicine company, Indus Biotech, to venture into the field and take the same extract for a factory-level preparation. Dr Manoj Bhat, scientist at NCCS whose research on the “hypoglycemic effect of a novel dialysed fenugreek seeds extract is sustainable and is mediated, in part, by the activation of hepatic enzymes” is published in ‘Phytotherapy Research’ journal and the British Journal of Pharmacology. It says there is a great scope for plant-derived pharmaceuticals, which can work as an alternative to the current management of hypeglycemia. Diabetes mellitus is an alarming medical problem affecting more than 194 million people. Persisting diabetic conditions often lead to damage of blood vessels, increased risk of coronary artery disease, stroke, blindness, nerve damage, and in extreme situations, may even lead to amputations.

http://www.indianexpress.com/news/methi-seeds-help-bring-down-blood-glucose-le/285643/

Fenugreek ( Methi seeds)

Fenugreek Seed Benefits, Fenugreek Seed Health Benefits, Home Remedies using Fenugreek

Fenugreek Seed or Methi seed is considered an amazing magical herb that can cure a number of ailments. The seed has been used since ancinet times. The ancient Egyptians and Romans used fenugreek seed for fevers, respiratory and intestinal problems, as well as wound healing and abscesses. Indian Ayurvedic and traditional Chinese medicine recommend fenugreek to treat number of ailments like arthritis, asthma, bronchitis, sore throat. These seeds help in improving digestion, maintain a healthy metabolism, curing reproductive disorders, induce labor, help with breast enlargement, reduce menstrual pain, lowering blood glucose and cholesterol levels, and many more such health benefits. The fenugreek seed besides being used as a spice has multiple health benefits.

Home remedies using fenugreek/methi seeds.
Lowering Cholesterol: A study in India found people who took 2 ounces of fenugreek seed each day had significantly lower cholesterol levels after 6 months. The risk of heart attack was also reduced by more than 25%.

Lowering Blood Sugar Levels and treating Diabetes: Studies have shown that participants with type 2 diabetes had significantly lower blood sugar levels after eating fenugreek.

Cure for Skin Inflammation: It has been shown in studies that Fenugreek is an effective topical treatment for skin problems like boils, burns, eczema, gout and ulceration of the skin. Take a spoonful of fenugreek seeds and grind it into powder. Mix it with warm water to make a poultice and apply it directly onto the inflamed skin. (A poultice is simply a piece of cloth which is soaked into the warm water mixture and then applied to the skin).

Treatment for Heartburn and Acid Reflux:Fenugreek seeds helps sooth gastrointestinal inflammation by coating the lining of the stomach and intestine. Therefore, fenugreek can be taken for an effective remedy against heartburn or Acid Reflux.

Natural Remedy for Fever: It is said that when fenugreek herb is taken with lemon and honey, it helps in reducing fever and it nourishes the body during an illness.

Fenugreek for Breast Enlargement: Fenugreek helps in balancing women's hormones and/or enlarge the breasts.

Ease Child Birth for Pregnant Women: Fenugreek stimulates uterine contractions. So during maternity pain, it helps in inducing childbirth. Should only be taken under a doctor's recommendation.

Helping in Milk Production in Lactating Women: Since ancient times, Fenugreek has used to increase milk production in lactating women. Research has even shown that milk production can increase by over 500% within 24 to 72 hours after consuming fenugreek.

How to take fenugreek / methis seeds?
There are various ways you can take fenugreek. When taken raw, the taste is bitter. However with regular intake, you become used to the taste.
• Take one teaspoon of Fenugreek seeds and swallow them with water in an empty stomach. Or you can have with juice or water before you start to eat.
• Soak it overnight and drink the water with fenugreek in next morning in empty stomach.
• Fry the seeds without oil and keep it in a bottle. Take a spoonful with hot water every morning.
• Powder the fenugreek seed and store it in a bottle. You can sprinkle this powder on onto salads, in soups or other dishes like any other table condiment.
• Fenugreek tea is another option. Brew a tea with the seeds. Start with a teaspoon of seeds in a tea basket and brew in hot water until the tea is comfortable to drink. This gives a refreshing taste. Some health food stores also sell herbal Fenugreek teas. which can be used instead of the green tea.
• Sprout the seeds in a seed sprouter or between moist paper towels for many days. You can add these sprouts to soups and curries. However do not let the sprouts grow for more than 3 days or they may become bitter.
• You can consume 1-2 teaspoons of Fenugreek seeds along with an herbal tea (such as green tea) as well.
• Last but not the least there are fenugreek tablets available in the medical shops. But nothing is better than the natural one. So you make your choice...

BENEFITS and USAGE of METHI SEEDS and METHI LEAVES (FENUGREEK)
Methi A wonder herb, a very popular vegetable in India.

Rich in protein, calcium, phosphorus and iron in their natural forms, its mineral and vitamin contents are also very high and this is easily assimilated by our body.
Both the leaves and seeds of this bitter tasting vegetable are fit for consumption.
The seeds are generally used as a condiment and for flavoring . Researches have shown that the regular long term use of methi seeds reduces deposits of fat in the body and lowers cholesterol.

However make sure you wash the leaves well before using. Is the goodness of this vegetable just restricted to being a health food? No. It has exceptional medicinal uses and can be used as beauty aid as well.
Medicinal uses and home remedies with Methi

Methi seeds are nourishing and rejuvenating, with the properties of a stimulant. If you experience fatigue or troubled by backache and other body aches, just eat a teaspoon of methi seeds daily.

Also include lots of fenugreek leaves in your diet Eating a teaspoon of methi seeds or drinking juice of methi seeds (soak methi seeds in water the previous night and then grind it to extract a paste or juice.) the first thing in the morning or an hour before each meal is found to be highly beneficial in the treatment of diabetes. In fact, many naturopaths have ascertained this fact.

Consuming fenugreek leaves which are a rich source of iron is highly beneficial for those suffering from anemia.

Applying a paste of methi leaves to the palms and soles of the feet alleviates burning sesation.

To increase the secretion of milk in nursing mothers, the seeds may be given in the form of gruel.

Add 1 tsp of methi seeds to yoghurt and take this to cure diarria and dysentery.
The powder of methi seeds should also be taken when there is loss of appetite, abdominal distension, gas and flatulence. It also gives respite in colds and fevers.

Methi cleanses and detoxifies the body by drawing out waste matter and expelling it.
It is also beneficial in dyspepsia, vomiting, piles, intestinal worms and other ailments.

To clear the phlegm and cure coughs, make a decoction of methi leaves. To 1 cup of this decoction, add 1 tsp each of ginger and honey and have it.

A herbal tea made from fenugreek seeds is highly beneficial in reducing temperature in fevers.

A poultice made of the leaves can be applied with benefits in external and internal swellings, sprains and burns.

Consume steamed fenugreek leaves to get relief for your arthritic joints and rheumatism.

Also consume fenugreek leaves regularly to keep your respiratory system, nervous system, reproductive system and neuromuscular system in a good condition.

The most effective way to eat methi seeds is to sprout them a little, then dry the sprouts, powder them and include in the everyday diet. You can have it in powdered form, as a decoction and herb tea.

BEAUTY AID
Paste of the fresh leaves and coconut milk applied over the scalp is believed to prevent hair-loss, promote hair growth, preserve its natural color, delay graying of hair and make it silky soft.

Add the powder of methi seeds with coconut oil and massage it on your scalp. Wash it off the next day with cold water. This helps to prevent premature graying of hair.

A paste of methi leaves mixed with vinegar is good for treating dandruff.

Applying the paste of fenugreek leaves and turmeric on your face is very good for pimple and blackhead prone skin.

Make a paste of fenugreek leaves and add boiled milk to it. Applying this to your face delays the appearance of fine lines and wrinkles. It not just improves the complexion but also makes one look years younger.
-----------------
The fenugreek seeds are diuretic, carminative, lactagogue and astringent. Fenugreek is used as a spice and as a yellow dyestuff in India. It is also used in many medical conditions such as diabetes, cholesterol, high blood pressure, stomach trouble, etc. It can be used as a poultice for boils.

Uses of Fenugreek
1.25 - 100 grams of fenugreek seeds eaten daily can diminish reactive hyperglycemia in diabetic patients.
2. Fenugreek leaves and seeds help in blood formation. They are good for preventing anemia and rundown conditions.
3. Including fenugreek seeds in lactating mothers increase the flow of milk.
4. A paste of the fresh fenugreek leaves, applied on the face prevents pimples, blackheads, dryness of the face and early appearance of wrinkles.
5. For removal of dandruff in hair.
6.If you add half a teaspoon of fenugreek seeds to the lentil and rice mixture while soaking, dosas will be more crisp.

Fenugreek is available whole and dried, or as a dull yellow powder, ground from the roasted seeds.

Nutritional Values
Parameters Value per 100g
Moisture
Protein
Fat
Minerals
Fibre
Carbohydrates
Energy
Calcium
Phosphorus
Iron 13.700 gm
26.200 gm
5.800 gm
3.000 gm
7.200 gm
44.100 gm
333.000 K cal
160.000 mg
370.000 mg
6.500 mg
Vitamins
Carotene
Thiamine
Riboflavin
Niacin
Folic Acid (Free)
Folic Acid (Total)
Choline 96.000 µg
0.340 mg
0.290 mg
1.100 mg
14.500 µg
84.000 µg
1161.000 mg
Minerals & Trace Elements
Magnesium
Sodium
Potassium
Copper
Manganese
Zinc
Chromium
Phytin Phosphorus 124.000 mg
19.000 mg
530.000 mg
0.710 mg
1.030 mg
3.080 mg
0.064 mg
151.000 mg
Source: National Institute of Nutrition, ICMR, Hyderabad, India

Tips for Storing & using Fenugreek
• Buy and store your fenugreek in whole form, if possible. If you want to use it in powder form, then grind or powder them in a grinder or mortar & pestle just prior to using because they rapidly lose their freshness and flavour once ground.
• Fenugreek whole or powdered should be stored in airtight containers in a cool dark place.

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Ban Nhạc FAVIC



Favic, tốp ca không có người Việt chuyên hát nhạc Việt nam

2012-06-11
Sống ở xứ người, phải học tập ngôn ngữ và văn hóa xứ người là chuyện bình thường. Nhưng sống ở xứ người mà tập cho người bản xứ học tập ngôn ngữ và văn hóa xứ mình là một chuyện lạ và ngược đời.


Photo by Tuong An, RFA
Nhóm tốp ca nữ của ban nhạc FAVIC. Photo by Tuong An, RFA

Chuyện lạ và ngược đời ấy đã xảy ra tại Pháp. Với tốp ca FAVIC, người ta đã nhìn thấy những người ngoại quốc mặc y phục VN và ca những bài ca bằng tiếng Việt. Rất hài hước và rất cảm động. Xin mời quý thính giả cùng Tường An tìm hiểu về tốp ca đặc biệt này.
Hướng đi và mục đích của Tốp ca Favic
Hẳn quý vị cũng nhận được rõ những câu ca dao quen thuộc của bài dân ca « Qua cầu gió bay » được diễn ngâm bằng giọng ngâm không phải là người Việt nam.
Sẽ rất bình thường, nếu chúng ta nghe những người Việt Nam hát những bản dân ca này,  nó sẽ không để lại một cảm xúc lâng lâng trong chúng ta như khi nghe những bài dân ca quen thuộc được hát bởi những người ngoại quốc. Cái cảm giác ấy, không chỉ là một cảm giác vui vui khi thấy người ngoại quốc biết được tiếng Việt mà đâu đó trong lòng chúng ta còn dâng lên một niềm tự hào khi nghe tiếng của dân tộc ta - một dân tộc nhỏ bé - được nói lên, được hát lên bởi những người không cùng chủng tộc.
Chúng tôi muốn nói đến nhóm FAVIC, một tốp ca gồm toàn người ngoại quốc, nhưng chỉ hát thuần nhạc Việt Nam. Với người sáng lập là anh Thiều Đoàn, tốp ca ra đời từ 10 năm nay với những bước chậm chạp, nhưng

Ba cô nữ ca sĩ của ban nhạc Favic chuyên hát nhạc Việt Nam
Ba cô nữ ca sĩ của ban nhạc Favic chuyên hát nhạc
ViệtNam

vững vàng, nhóm đã đi vào hầu hết các sinh hoạt Tết, văn nghệ của người Việt tại Pháp.
Anh Thiều Đoàn là thông dịch viên Việt ngữ cho tòa Thượng thẩm Paris. Nhận thấy rằng tìm hiểu văn hóa của nước người để hội nhập là một điều cần thiết, nhưng để cho người dân nước sở tại hiểu chúng ta hơn, thông cảm với chúng ta hơn, tại sao không tìm cách cho họ biết thêm về chúng ta  qua sự làm quen của họ với văn hóa Việt, ngôn ngữ Việt ?
Bên cạnh đó, để đánh tan mặc cảm của thế hệ trẻ không còn biết tiếng Việt bằng cách tạo cho họ niềm tự hào, rằng, ngôn ngữ của chúng ta cũng được yêu thích bởi những người dân bản xứ. Ngoài ra, anh Thiều Đoàn quan niệm :  cái “tự hào dân tộc” về truyền thống của văn hóa VN, không thể nói lên bởi chính những “người-tự-cho-mình” cái niềm tự hào đó. Tốt hơn hết, nên để những người “ngọai cuộc” đánh gía cái “đáng tự hào” hay “không đáng tự hào” đó. Anh Thiều Đoàn giải thích thêm về sự ra đời của nhóm FAVIC :
...khi nghe những bài dân ca quen thuộc được hát bởi những người ngoại quốc. Cái cảm giác ấy, không chỉ là một cảm giác vui vui khi thấy người ngoại quốc biết được tiếng Việt mà đâu đó trong lòng chúng ta còn dâng lên một niềm tự hào khi nghe tiếng của dân tộc ta - một dân tộc nhỏ bé - được nói lên, được hát lên bởi những người không cùng chủng tộc...
« Sau 75, tất cả chúng ta đều phải làm mọi cách để hội nhập với xã hội mới, vì hội nhập như vậy thì con cháu chúng ta ít có cơ hội nói tiếng Việt, ra đường, ở trường, ở sở không ai nói tiếng Việt cả thì các cháu quên dần tiếng Việt và phần nào có mặc cảm tự ti dân tộc. Vì thế bây giờ phải có cách gì để đánh động lương tâm của các cháu, gợi trí tò mò của các cháu và đó là một trong những lý do để chúng tôi tại ra nhóm này.
Trong lúc đó, nhưng người địa phương tiếp nhận những thuyền nhân thì lại rất thích thú tìm hiểu văn hóa của một dân tộc đã kiên cường đi vượt biển tìm tự do thì họ mới tìm hiểu văn hóa này. Nhưng thay vì, chính mình nói về văn hóa mình thì cách hay nhất là để những người bạn ngoại quốc nói và hiểu được về văn hóa VN »
Ý tưởng có vẽ  trái chiều nhưng mới lạ này nảy sinh và anh Thiều Đoàn bắt đầu tìm những người ngoại quốc yêu thích văn hóa Việt để thành lập tốp ca. Sau những ngày một mình đi dán giấy ở quận 13 khu Á châu để tìm người,  dần dần một nhóm với 10 người được hình thành. Họ là những người biết đến văn hóa VN và gắn bó với âm nhạc VN qua một chuyến du lịch, qua một cuốn phim, một quyển sách, một chương trình văn nghệ hay cũng có thể qua một chuyện tình hai chủng tộc.
Chị Mais, người đảo Guadeloupe , tuy nói tiếng Việt không rành, nhưng khi hát, người ta nhìn thấy sự say mê, niềm hân hoan, phấn khởi hiện rõ trên gương mặt và đôi tay không ngừng múa may của chị, chị nói :
« Tôi thích học hát tại vì tôi thích phong cảnh VN, tôi thích bài hát « Làng tôi », tôi thích ca sĩ Như Quỳnh »

Thành viên được lựa chọn khá gắt gao

Toàn ban nhạc Favic đang trình diễn tại Paris.
Toàn ban nhạc Favic đang trình diễn tại Paris. Photo by Tuong An, RFA

Sự phát triển của nhóm rất chậm, từ 10 người đầu tiên, sau 10 năm, nhóm chỉ lên được 15 người bởi sự chọn lựa khá gắt gao : Chỉ những ngưởi hoàn toàn không có chút dòng máu Việt nào mới được tham gia, trong vài trường hợp ít ỏi thì anh Thiều Đoàn mới nhận người có 25% hoặc 50% dòng máu Việt nhưng phải có những điều kiện kèm theo. Hiện Favic có 15 thành viên gồm 7 nguồn gốc khác nhau : Pháp, Nhật, Nam Tư (yougoslave), Đức, Thụy điển, Martinique, và Guadeloupe.
...Khó khăn là chúng tôi không thể nào chấp nhận tất cả mọi người, thành ra lúc đầu là 10 người, bày giờ cũng chỉ có 15 người. Mỗi một thành viên phải có 3 tháng tập sự, và sau 3 tháng khi thấy sinh hoạt hợp và 2 bên đều đồng ý chấp nhận nhau thì mới được giữ lại. Và điều kiện để vào nhóm cũng không phải là dễ : phải không là người VN...

...Khó khăn là chúng tôi không thể nào chấp nhận tất cả mọi người, thành ra lúc đầu là 10 người, bày giờ cũng chỉ có 15 người. Mỗi một thành viên phải có 3 tháng tập sự, và sau 3 tháng khi thấy sinh hoạt hợp và 2 bên đều đồng ý chấp nhận nhau thì mới được giữ lại. Và điều kiện để vào nhóm cũng không phải là dễ : phải không là người VN...
« Khó khăn là chúng tôi không thể nào chấp nhận tất cả mọi người, thành ra lúc đầu là 10 người, bày giờ cũng chỉ có 15 người. Mỗi một thành viên phải có 3 tháng tập sự, và sau 3 tháng khi thấy sinh hoạt hợp và 2 bên đều đồng ý chấp nhận nhau thì mới được giữ lại. Và điều kiện để vào nhóm cũng không phải là dễ : phải không là người VN, trừ một vài trường hợp đặc biệt là có 50% dòng máu VN thì phải có thêm vài điều kiện đặc biệt nào khác »
Ngoài ra, khó khăn chính vẫn là vấn đề ngôn ngữ :
« Đây cũng là một trắc nghiệm về sinh ngữ : làm thế nào để chuyển một ngôn ngữ đa âm sang môt ngôn ngữ độc âm. Đây là vấn đề mà có những người không thể nào thích ứng được, có những người thì thích ứng được một cách dễ dàng, đó là điều kiện thứ nhất. Điều kiện thứ hai là chấp nhận kỷ luật tập thể, sống chung trong tập thể với nhau, biết tôn trọng, tương kính lẫn nhau. »

Trước khi học một bài hát, thành viên được giải thích về tác giả, nội dung bài hát, ý nghĩa từng câu trong bài. Như vậy họ có khá nhiều dữ kiện để có đủ cảm hứng về bài  hát. Và vô hình chung , họ đang học một sinh ngữ mới. Những bài hát thường được chọn theo chủ đề dân ca, nhạc tiền chiến…v.v.. với những nhịp điệu vui tươi, dễ hát :
Đây cũng là một trắc nghiệm về sinh ngữ : làm thế nào để chuyển một ngôn ngữ đa âm sang môt ngôn ngữ độc âm. Đây là vấn đề mà có những người không thể nào thích ứng được, có những người thì thích ứng được một cách dễ dàng... Điều kiện thứ hai là chấp nhận kỷ luật tập thể, sống chung trong tập thể với nhau, biết tôn trọng, tương kính lẫn nhau...
Anh Thiều Đoàn
« Trước tiên chúng tôi ưu tiên hát dân ca, sau đó chúng tôi hát tân nhạc. Những bản tân nhạc mà chúng tôi chọn phần nhiều về nội dung nói về sức sống của dân tộc. Về hình thức phần nhiều là nhạc điệu rumba, chachacha…để cho dễ hát. Sau đó, chúng tôi cũng chọn những bản nhạc ngoại quốc những lời Việt, như bản La Paloma, Bésamé Mucho, Come back to Sorento….bằng lời Việt. »
Thành quả của nhóm Favic, theo anh Thiều Đoàn, hãy còn nhỏ nhoi, tầm thường cũng chỉ vì thiếu nhân lực và vật lực. Anh nói : « Một cánh én không làm nổi mùa Xuân. Thế nhưng, nhìn lên bầu trời, không một bóng mây, trông thấy được một cánh én, kể cũng vui vui » và trong cái vui vui ấy,  anh kể lại một câu chuyện mà đối với anh đó là phần thưởng quý giá cho hơn 10 năm gầy dựng tốp ca :
« Một kỷ niệm mà chúng tôi đáng nhớ nhất là trong khi chúng tôi hát trên chùa Khánh Anh thì tôi đi xuống dưới đồng bào để tôi xem phản ứng như thế nào thì 1 bà mẹ đã quay lại nói với các con mình : « Đó ! người ta ngoại quốc mà người ta còn biết hát nhạc VN còn chúng mầy ở nhà bảo nói tiếng Việt mà không chịu nói tiếng Việt » Thì đó là một điều cảm động và đúng với mục đích mà chúng tôi nhắm vào. Và đối với các cộng đồng, các hội đoàn ngoại quốc thì đó cũng là một cái gì mới lạ. Chưa có bao giờ có một ca đoàn gồm 7 quốc tịch khác nhau, không có người VN mà chỉ chuyên hát nhạc VN »
Sự đa dạng của tốp ca được nhìn thấy qua những mái tóc vàng xen lẫn tóc nâu, mắt xanh biêng biếc hay mắt thẳm màu nâu, da đen Phi châu lẫn da trắng Tây Phương. Những gương mặt rất trẻ bên cạnh những mái đầu đã bạc. Họ tự hào trong những bộ đồ bà ba, áo dài VN, áo tứ thân thắt lưng xanh đỏ. Tình yêu VN của họ được thể hiện qua những bài dân ca mà họ say sưa hát với niềm đam mê trong mắt, trên môi ; dù với cách phát âm hãy còn lạc điệu một cách hồn nhiên. Ở FAVIC, ngôn ngữ VN, ngôn ngữ của một dân tộc nhỏ bé đã vượt trùng dương và trở thành nơi hội tụ của nhiều chủng tộc.
Bài hát « Đất lành » của nhóm Favic sẽ kết thúc bài phóng sự về  một tốp ca không có người VN nhưng chỉ hát nhạc VN

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Lời phát biểu của Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Julian Trần


Lời phát biểu của Trung Tá
Lục Quân Hoa Kỳ Julian Trần

Nhân dịp lễ Memorial Day
tại National Cemetery of the Pacific (Punchbowl) Honolulu, Hawaii
Ngày 27-5-2012
(Translation from the remarks in English)
 
 
Kính thưa qúy Cựu Chiến Binh chiến tranh Việt Nam; các quân nhân Hải, Lục, Không quân, Thủy Quân Lục Chiến, Biên Phòng và qúy quan khách.
 
Kính thưa quý vị,             
Đây là một vinh dự lớn cho tôi ngày hôm nay được ở đây để bày tỏ những lời biết ơn chân thành đến những anh hùng đã chiến đấu cho nền tự do của miền Nam Việt Nam.
Trước hết, tôi xin cám ơn ban tổ chức, nhất là Cô Nina và cựu Đại Tá Castagnetti đã cho tôi cơ hội được đứng nói chuyện với quý vị trong buổi chiều hôm nay.
 
Kính thưa quý vị,
Là một người lính, tôi tin là "khi đã là lính, thì suốt đời ta sẽ là lính"; thế nên theo sự suy nghĩ của tôi, quý vị không phải là những cựu chiến binh, mà quý vị luôn là người lính cho đến ngày các quý vị nhắm mắt xuôi tay.  Vì thế, nếu cho tôi một cơ hội, tôi sẽ không ngần ngại được sát cánh với quý vị xông pha vào mặt trận bất cứ ngày nào, giờ nào, và bất cứ nơi đâu.  Cũng như quý vị, tôi cũng đã từng xông pha ngòai mặt trận trên những vùng đất lạ xa xôi để bảo vệ cho cuộc sống và nền tự do mà chúng ta, những công dân Hoa Kỳ, được an hưởng từng ngày từng phút.
 
Sự khác biệt giữa thế hệ của chúng tôi và thế hệ của quý vị là ít nhất, chúng tôi cũng nhận được một ít lòng biết ơn của đồng bào khi chúng tôi trở về từ mặt trận; những quân nhân của thế hệ chúng tôi là những người gặp nhiều may mắn.  Nhưng còn quý vị, những quân nhân chiến đấu trong cuộc chiến ở Việt Nam - và rất nhiều những quân nhân đó đang có mặt nơi đây - những người lính đó khi trở về từ mặt trận đã phải đối mặt với sự ruồng bỏ và thù hằn của xã hội, một cái xã hội đã vội quên đi giá trị của hai chử tự do và nghĩa vụ của một công dân Hoa Kỳ.  Tuy vậy, cho dù quý vị đã không nhận được lòng biết ơn của công chúng cũng như phải đối đầu với những lời tuyên truyền một chiều của giới truyền thông, quý vị đã kiên cường chiến đấu và chưa từng chiến bại trên bất cứ một trận đánh nào trong gian đọan đó, từ thung lũng Ia Drang, Khe Sanh, ngọn đồi Hamburger, Tết và còn nhiều hơn nữa.  Tôi và quý vị, chúng ta là những người lính, mà là lính, chúng ta thi hành nhiệm vụ theo quân lệnh, tận lực 110% trong bất cứ hòan cảnh khó khăn nào - và có những người lính đã cho hết tất cả -- những người lính đó chính là những người hiện đang nằm sâu trong lòng đất thánh nầy.
 
Về phần tôi, đất nước Hoa Kỳ đã cho tôi một cơ hội, không những ban cho tôi một cuộc sống tự do, mà còn cho tôi cơ hội để phục vụ trong một quân đội hùng mạnh nhất  trên quả địa cầu nầy, để bảo vệ cho nền tự do và cuộc sống của người dân Hoa Kỳ.  Và tôi cho rằng đây là một vinh dự to lớn nhất trong cuộc đời tôi.  Vâng, đất nước Hoa Kỳ tuy không phải là một quốc gia tòan thiện tòan mỹ, nhưng tôi có thể chứng minh rằng sau hơn 35 quốc gia mà tôi đã từng đi qua, Hoa Kỳ vẫn luôn là một quốc gia tốt đẹp nhất trên trái đất nầy.  Đối với những kẻ luôn than phiền về đất nước nầy; bôi nhọ quê hương nầy; nếu họ có thể tìm được một vùng đất nào trên thế giới tòan thiện hơn quê hương nầy, xin họ cho tôi biết, tôi sẽ mua cho họ một vé máy bay một-chiều, điểm đến họ tự chọn, và tôi muốn họ đừng bao giờ trở lại đất nước nầy nửa.  Vì tôi rất tự hào là một công dân Hoa Kỳ và tôi không bao giờ muốn sống chung với những người đó.
 
Tuy tôi còn nhỏ trong thời gian chiến tranh đang xảy ra tại Việt Nam, nhưng tôi cũng có thể cảm nhận được và yêu quý sự tự do mà chúng tôi có ở miền Nam Việt Nam.  Người anh ruột và 2 cậu của tôi là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), cũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ cho nền tự do của quê hương mình.  Nền tự do mà người dân miền Nam an hưởng trước 1975 sẽ không bao giờ có được nếu không có những sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ QLVNCH cùng sát cánh với những người lính của các quân binh chủng Hoa Kỳ, những người lính Mỹ đó giờ chúng ta gọi là cựu quân nhân Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. 
 
Kèm theo đây, tôi cũng muốn gởi lời cảm ơn thành kính nhất đến gia đình và thân nhân của hơn 58,000 vị anh hùng ngã xuống và tên họ đã khắc sâu trên Bức Tường Chiến Tranh Việt Nam tại Thủ Đô Hoa Thinh Đốn.  Nếu không có những vị anh hùng nầy, chúng tôi, người dân của miền Nam Việt Nam, sẽ không có thể có được một cơ hội để an hưởng nền thịnh vượng và thấm hiểu được giá trị của hai chử “Tự Do”.  Tuy thời gian "Tự Do" đó có ngắn ngủi, nhưng chúng tôi đã học hỏi được cái giá trị của hai chử “Tự Do”.  Và vì thế, xin quý vị nhận nơi đây lời cảm ơn chân thành nhất  từ con tim của tôi cho những ngày tháng Tự Do đó mà quý vị đã cho chúng tôi .
 
Sau chiến tranh Việt Nam, hàng trăm ngàn người dân Việt Nam đã vượt biên để tìm tự do; đã có không biết bao nhiêu những người vượt biên đã bỏ mình trên biển sâu hoặc là trong rừng sâu núi thẩm ở Lào và Cambodia trên bước đường đi tìm tự do.  Những người vượt biên đó được mọi người gọi là "Thuyền Nhân," hoặc là như tôi, những người vượt biên "Đường Bộ" vì tôi vượt biên qua ngã Cambodia.  Những người tị nạn đó đã chọn "thà chết để được sống tự do;" họ chọn kiếp sống tự do vì quý vị họ đã cho họ nếm được cái ý nghĩa và giá trị của hai chử Tự Do.
 
Thống Tướng Douglas MacArthur có nói rằng "người lính già không bao giờ chết, họ chỉ tan biến theo thời gian."  Nhưng tôi muốn cho quý vị biết rằng " quý vị có thể chết vì tuổi già, nhưng sẽ không bao giờ tan biến theo thời gian" bởi vì quý vị sẽ sống mãi trong con tim và khối óc của hàng triệu người Việt và cộng đồng Việt Nam trên tòan thế giới.  Mỗi khi tôi gặp một cựu chiến binh Việt Nam, tôi luôn gởi đến họ hai tiếng cảm ơn, và tôi mong muốn tất cả mọi người điều làm giống như tôi vì những người cựu chiến binh đó đã hy sinh quá nhiều cho miền Nam Việt Nam và cho đất nước Hoa Kỳ.
 
Tôi cũng mong muốn tất cả công dân Hoa Kỳ bày tỏ lòng cảm ơn của mình cho tất cả những cựu quân nhân cũng như những người lính đang phục vụ trong quân đội hôm nay; nếu không có họ, đất nước Hoa Kỳ sẽ không bao giờ có được như ngày hôm nay; quê hương nầy sẽ không có được sự tự do mà mình đang có; và Hoa Kỳ đã không trở thành một quốc gia vĩ đại trên trái đất nầy.  Xin nhận nơi đây lời chào kính trọng của tôi đến tất cả những cựu quân nhân và những người lính có mặt ở đây ngày hôm nay.  Xin ơn trên phù hộ cho quê hương nầy cũng như phù hộ cho tất cả quý vị.
 
 
 
*********************************
 
Remarks at the Memorial Day Commemoration
 National Cemetery of the Pacific (Punchbowl), Honolulu, Hawaii
May 27, 2012
 
By Lieutenant Colonel Julian Tran, U.S. Army
 
Good Afternoon.
Distinguish guests; veterans of the Vietnam War; Soldiers; Sailors, Marines; Airmen; Coast Guard; and my fellow Americans.
Ladies and Gentlemen:
It is a great honor for me to be here today to express my deepest gratitude to the warriors who had fought for the freedom of South Vietnam.
First of all, I would like to thank the organizer of this event, particularly, Mrs. Nina and Retired Colonel Castagnetti who give me the opportunity to stand in front of you this afternoon.
Ladies and Gentlemen,
As a soldier, I strongly believe that “once a Soldier, you will always be a Soldier”; therefore, to me, you are not a veteran, but you are, and always will be, a Soldier until the day you die.  And I, if given the opportunity, would not hesitate to go to battle with you, side-by-side, anyday, anywhere, and anytime.  Like you, I’ve deployed and fought in the faraway lands to preserve our way of life and the freedom that we, Americans, all enjoy every day. 
The different between your generation and my generation is that, at least my generation, to a certain extent, has received some appreciations from the people that we met once we returned home from war.  I am the lucky one; many of today’s servicemen and women are the lucky ones.  But for the Soldiers who fought during the Vietnam War – And many of you are here today – they returning home to face the hostility and rejection from a society that has forgotten the value of freedom and what it meant to be an American.  Despite under appreciated and bias media propaganda, you had fought well and had never lost a single battle when you were there, from the La Rang Valley, Khe Sanh, Hamburger Hill, and Tet, just to name a few.
You and I, we are Soldiers, and as Soldier we followed orders and executed our missions regardless of the circumstances.  We gave 110% - and many gave it all - and are lying here today in this holy ground.
As for me, America has given me the opportunity, not only to live free again, but also to serve the greatest Armed Forces on this planet earth, and to defend our freedom and way of life.  And I consider this is the greatest honor of my lifetime.  Yes, America is not a perfect country, but I can attest to you that, after having been to more than 35 countries, this country is still the best country on this planet.  Those who complain about America; say bad things about America; if you can find a better place on earth to live, please let me know, I will buy you a one-way ticket, destination of your choice, and don’t you ever come back.  Because I am so proud to be an American and I sure don’t want to live with you.
Though I was a little boy during the Vietnam War, but I had a great sense of appreciation of the Freedom that we enjoyed in South Vietnam.  My brother and two uncles who were officers in the South Vietnamese Army – or ARVN, fought and died to preserve our freedom as well.  The Freedom that South Vietnamese people enjoyed until 1975 couldn’t have taken place without the sacrifice of hundreds of thousands of ARVN soldiers who fought alongside the American Soldiers, Sailors, Marines, Airmen and Coast Guards which who they are now called Vietnam War Veterans. 
Additionally, my sincere appreciation also goes to families of more than 58,000 names of those warriors are now on the VIETNAM WALL in Washington D.C. WITHOUT YOU, the Vietnam Veterans, WE, the people of South Vietnam couldn’t have enjoyed a period of prosperity and appreciated the value of FREEDOM.  Though the period of “Freedom” was short live, we had learned and realized what it meant to be free.  And for that, I want to say THANK YOU from the bottom of my heart for giving us those days of freedom.
 After the Vietnam War, hundreds of thousands of Vietnamese people escaped from Vietnam; untold number of them died at seas or in the jungles of Laos and Cambodia on their journey of seeking freedom.   Those people, as you have known them as “boat people” or, as for me, the “land people” because I escaped from Vietnam thru Cambodia.  Those refugees had chosen to “live free or die” because you have given them the TASTE of FREEDOM. 
General Douglas MacArthur said “old Soldiers never die; they just fade away." For the Veterans of the VIETNAM WAR, I want to say that “you may die of old age, but you will never fade away” because in the heart and mind of millions of Vietnamese people and communities around the world, you will live on forever.  Whenever I see a Vietnam War Veteran, I always say Thank you to him, and I would ask everyone to do the same because he had given so much and had done so much for South Vietnam and for America.
I also would ask every American to say a word of THANK YOU to every Soldier past and present; because without them, America will not be where we are today; American will not have the freedom that we have today; and America will not be the greatest country on this planet earth.  To all the veterans and Soldiers here today, I salute you. 
GOD BLESS AMERICA AND GOD BLESS YOU ALL.
 
*********************

Video Ca Nhạc

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Những Sự Thật về Chiến Tranh Việt Nam


Giáo sư Robert F. Turner
Trung tâm an Ninh Luật Pháp Quốc Gia
Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân.
(Trích trong “những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)

Tôi là một sinh viên trong số tương đối ít ỏi đã thực tin rằng việc chống Cộng sản xâm lược là việc đúng của Hoa kỳ ở Việt Nam, Lào, Cambodia là đúng.
Tôi lần đầu đến Việt Nam trong một giai đoạn ngắn khi là phóng viên năm 1968, rồi quay về đi lính, bắt đầu chức vụ Trung úy rồi sau lên Đại úy rồi trở lại đó hai lần làm việc tại một bộ phận của toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, là Văn phòng Nghiên cứu về Bắc Việt và Việt Cộng. Tôi có cơ hội được đi tới nhiều địa phận tại Việt nam, khoảng 44 tỉnh thành, có chỗ chỉ đi ngang qua. Tôi được qua Lào, Cambodia. Sau khi giải ngũ tôi gia nhập Hoover Institution, tôi đã viết cuốn sử quan trọng đầu tiên bằng tiếng Mỹ về “Cộng sản Việt Nam” .
Trong hơn hai chục năm, tôi đã có nhiều khóa giảng dạy tại viện Đại học Virginia về Chiến tranh Việt Nam. Vì thời giờ có hạn, tôi phải nói ngắn, nhưng trước khi đề cập tới chủ điểm của bải thuyết trình, tôi xin có thêm một lời cảnh báo, nhất là với các khán thính giả trẻ tuổi.
Rằng đa số lập luận “sáng suốt phổ biến” của người Mỹ về Chiến tranh Việt Nam thật ra lại không đúng. Rất đáng tiếc rằng điều ấy có nghĩa là đa số những gì được giảng dạy tại cấp trung và đại học lại gần với thần thoại hơn là lịch sử. Tôi chi xin đơn cử hai thí dụ, hai thí dụ quan trọng:
1- Ngày nay, chúng ta được nghe rằng cuộc chiến Việt Nam là “bất khả thắng”. Chúng ta đứng sai chỗ. Tôi xin được góp tiếng bên cạnh nhiều sử gia thuộc loại xuất sắc nhất ngày nay khi nêu lập luận ngược rằng chúng ta không chỉ hy vọng thắng mà thực tế đã thắng vào đầu thập niên 1970. (Và khi nói “chúng ta”, tôi không nghĩ rằng đấy là Quân lực Hoa Kỳ mà là nỗ lực chung của hai quân đội miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ cùng với người dân miền Nam).
2- Chuyện gì đã xảy ra? Khi tôi tuyên bố là có thể thắng. Tôi xin đưa câu nói của người bạn thân Douglas Pike: ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đổi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, ông Pike nói rằng: Tôi tin rằng chúng tôi có thể đã thắng cuộc chiến Việt Nam. Tôi tin rằng trong tương lai lịch sử sẽ nói rằng chúng ta đã thắng. Đó là sự thật.
Một số thí dụ sau đây sẽ chứng minh.
Có một bài viết trong báo Foreign Affairs năm 2004 do Giáo sư John Lewis Gaddis Khoa trưởng Americạn Diplomatic Historians nói rằng: Các sử gia hiện tại công nhận rằng miền Nam Việt Nam và đồng minh đã thắng cuộc chiến quân sự. Nh­ưng lại thua cuộc chiến tâm lý tại Mỹ. Tôi xin nhắc lại cho quý vị trẻ biết sau khi bị bỏ bom tơi bời Hà Nội vội vã trở lại đàm phán tại Paris. Và mọi chuyện êm xuôi nếu chúng ta dùng máy bay B52 để trấn giữ hiệp định.
Nhưng quốc hội với áp lực của “Phong trào Hòa Bình” đã thông qua dự luật vào tháng năm 1973. Sẽ là bất hợp pháp nếu Tổng Thống sử dụng bất cứ đồng nào trong công quỹ cho cuộc chiến tại Việt Nam, Lào và Cambodia. Làm như vậy, Quốc hội đã chuyển thắng thành bại. Quốc hội phản bội lời cam kết lịch sử của Hoa Kỳ là bảo vệ các nước không Cộng sản tại Đông Dương. Lúc ấy tôi làm việc tại Thượng nghị viện, nghị sĩ Ted Kennedy tuyên bố rằng “Việt Nam không cần giúp đỡ, họ đã có lượng vũ khí trị giá vô số triệu đô la”. Đó là sự thật. Việt Nam có phi cơ trực thăng, xe tăng Hoa Kỳ. Nhưng cái mà họ không biết là, Việt Nam không có đạn, không có xăng. không có phụ tùng. Đống đồ đó trở nên vô dụng. Đây là câu chuyện tôi chưa bao giờ kể cho ai nghe. Ngay sau khi sơ tán từ Việt Nam về tới Mỹ, tôi gặp Nghị sĩ Ted Kennedy tại Thượng Nghị Viện. Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông ấy khi trở về Mỹ. Ông ấy đứng cách tôi khoảng 3 mét. Tôi cung tay phải lên và tự nhủ: “mình phải cho nó biết tay, phải đấm gục hắn ta và nói cho thế giới biết rằng chúng tôi vừa mới phản bội chính danh dự của mình và bỏ rơi những người đáng yêu.”
Nhưng tôi đã tự cản bản thân mình vì làm vậy sẽ ảnh hưởng đến cương vị Nghị sĩ của tôi và Ted Kennedy sẽ trở thành người hùng. Không phải là việc làm đúng đắn nhưng đôi lúc tôi nghĩ là mình đã bỏ rơi cơ hội ấy.
Sau khi Quốc Hội cắt hết viện trợ cho Việt Nam, Trung cộng gia tăng viện trợ cho Hà Nội. Phạm Văn Đồng nói rằng: “Được cho kẹo tụi nó cũng không dám quay lại”. Đó là lý do của sự thất bại tại chiến trường Việt Nam.
Quân nhân Mỹ, QLVNCH, và miền Nam Việt Nam không bị bại trận, mà thua vì cái gọi là “tự do” của Quốc hội Hoa Kỳ.
Điềm thứ 2 tôi muốn đưa lên là: Việt Nam rất quan trọng. Họ cho rằng Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến “phi lý” tiến hành không lý do chính đáng, do hiểu lầm về vụ đụng độ không đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ. Thật sự là ngớ ngẩn.
Tôi đã viết 450 trang trình bày trong luận án đạt giải danh dự năm 1966. Tôi đã ghi lại vào tháng Năm 1975 đảng Lao động của Cộng sản Việt Nam đã quyết định từ Tháng Năm năm 1959 là mở ra đường mòn Hổ Chí Minh và gửi vào Nam nhiều ngàn lính và vô số chiến cụ với mục đích lật đổ chính phủ trong Nam. Đây là hành động xâm lược quốc tế và vi phạm Hiên chương Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ tham chiền để giúp người dân miền Nam tự vệ vì cùng một lý do như việc chúng ta tham chiến tại Cao Ly, nhằm bảo vệ tự do của con người và thực thi việc chống xâm lược đã được ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc.
Trong cuốn sách “Cộng sản Việt Nam” xuất bản năm 1975, Hà Nội đã nhiều lần xác nhận sự thực đó từ Tháng Năm năm 1959 ngay ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. 10 năm trước, chúng tôi đã thảo luận tại Đại học Luật Virginia về vấn đề hợp pháp này. Luật quốc tế và Hiến chương Liên hiệp. Không thể thảo luận nối vì Hà Nội lập luận rằng đó là nội chiến trong miền Nam VN v.v... hãy bỏ qua 1 số điểm vì thời gian có hạn.
Tôi nêu lên hậu quả của việc bỏ rơi VN.
Tôi có thể nói hoài về việc người Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tôi là người đứng ngay trong trận khi Quốc Hội biểu quyết không giúp đỡ Angola vì sự xâm lăng của Xô Viết. Kết quả nạn nhân bị tử vong ở đấy được ước lượng là không dưới trăm ngàn người.
Đến việc Liên Xô xâm chiếm Afghanistan khiến cả triệu người chết. Sẽ không xảy ra nếu chúng ta không rút lui.
Và lần đầu tiên trong sáu chục năm, Moscow bảo với tay sai của họ ở Mỹ châu La Tinh rằng tiến hành “đấu tranh võ trang” để cướp chính quyền thì cũng được, từ đấy mới xảy ra nội chiến tại El Salvador, Nicaragua, Honduras, Guatemala, Costa Rica và các nước khác trong vùng. Vô số người lại thiệt mạng vì chuyện đó. Một số lớn súng M16 tịch thu được từ quân phiến loạn El Salvador, căn cứ theo số xê ri là súng bỏ lại tại chiến tranh VN của quân đội Mỹ. Hà Nội đã cung cấp cùng với Xô Viết qua đường Cuba rồi đưa lậu qua El Salvador.
Cho những người nói chiến tranh VN là phi lý. Họ đã sai.
Nhưng hôm nay tôi không muốn tập trung về các vấn đề dù rất quan trọng là đia dư chiến lược. Tôi muốn nói về hậu quả của quyết đinh của Hoa Kỳ đối với con người.
“Phong trào hòa bình” của phe phản chiến - trấn an chúng ta rằng Hoa Kỳ chỉ lần rút quân và chấm dứt chiến tranh thì mình sẽ phát huy “nhân quyền” và “ngăn nạn tàn sát”. Tôi rất ngại nói về những gì xảy ra tại Việt Nam sau khi Hoa Kỳ triệt thoái, vì trong hội trường này và tại khu “Little Sàigon” có nhiều người đã trực tiếp nếm mùi và biết rõ hơn những gì mà mọi “học giả” Mỹ có thể muốn biết. Nhưng có một số sự thật thì đã rõ ràng.
Hãy trước tiên nói về nhân quyền. Tháng Tư năm 1975, khi sự chiến thắng của Cộng sản đã thành hiển nhiên cho mọi người, Đệ nhất Bí thư đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố rằng: sau khi “giải phóng” Miền Nam, chúng ta sẽ biến nhà tù thành trường học”. Tới Tháng 10 năm 1978, nhật báo Times đầy uy tín tại Luân Đôn đã báo cáo sự thật: Cộng sản Việt Nam đã biến nhà trường và cô nhi viện thành nhà tù vì họ có quá nhiều tù nhân.
Điều 11 của Hiệp định Paris ký kết năm 1973 cấm “mọi hành vi trả thù hay kỳ thị các cá nhân hay tổ chức đã hợp tác với một phe bên này hay bên kia”, và còn rõ ràng bảo đảm quyền tự do báo chí, tôn giáo, tự do sinh hoạt chính trị và một loạt những quyền thiêng liêng khác. Vậy mà Tháng Năm năm 1977, tờ Quân đội Nhân dân công khai thông báo “triệt để cấm mọi hành vi chống lại chế độ và tước hết mọi quyền tự do của những kẻ không tin vào xã hội chủ nghĩa”. Bài báo tuyên bố: “Với bọn phản cách mạng... nhân dân ta dứt khoát xoá bỏ quyền tự do ngôn luận và trừng phạt đích đáng”.
Sau đó, một dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép tham gia cái gọi là “Quốc hội Thống nhất” đã tuyên bố: Chế độ mới cai tri bằng bạo lực và khủng bố. Không có tự do di chuyển hay lập hội; không có tự do báo chí hay tự do tôn giáo hay... cả quyền tự do có ý kiến riêng... Sự sợ hãi tràn ngập khắp nơi”
QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ
Tháng Chín năm 1970, Trưởng phòng Sài Gòn của tờ Christian Science Monitor là Daniel Sutherland ông bạn của tôi vào thời ấy - có viết một bài dài về “quyền tự do báo chí” trong Nam. Ông viết: “Dưới bộ luật báo chí mới, Miền Nam bây giờ có một nền báo chí thuộc loại tự do nhất Đông Nam Á...”. Tôi tin chắc rằng mình không là người duy nhất trong hội trường này có thề xác nhận điều ấy. Riêng Sài Gòn thì đã có hơn ba chục tờ báo, và nhiều tờ trong số đó kịch liệt chống chính phủ.
Dĩ nhiên là để thu thập dữ kiện về quyền tụ do ấy, tôi thường cầm máy ảnh lang thang trong Sài Gòn vào những chiều Chủ Nhật được nghỉ. Tôi thấy bày bán công khai những quyển sách như “Chiến tranh Nhân dân và Quân đội Nhân dân” của Tướng Võ Nguyên Giáp là cuốn chỉ nam về nổi dậy của Việt Cộng, vài cuốn của lãnh tụ cộng sản Cuba là Ché Guevarra, và cả các cuốn sách về hay của Mao Trạch Đông. Sau ngày gọi là “giải phóng”, người Cộng sản chiếm đóng đã “tạm thời” đình chỉ xuất bản mọi tờ báo hay tạp chí độc lập. Chưa đầy một tháng sau, mọi tiệm sách báo đều bị đóng cửa và việc mua bán hay tàng trữ các văn hoá phầm xuất hiện “dưới chế độ cũ!” đều bị cấm.
TÙ CHÍNH TRỊ
Một trong các vấn đề nặng nề nhất là những người chống Việt Nam thường nêu ra, là cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam đã giam giữ hơn 200 ngàn “tù chính trị”. Khi trở lại Đông Dương vào Tháng Năm 1974 cũng là dịp thăm viếng Cam Bốt và Lào – tôi chú trọng đến việc điều tra những lời cáo giác trên.
Tôi ghé thăm Linh mục Chân Tín, nổi danh lãnh tụ của “lực lượng thứ ba” nhưng có lẽ là một cán bộ của Hà Nội. Tôi hỏi ông là tìm đâu ra con số “202 ngàn tù nhân chính trị?” Ông ta bảo rằng mình đã hỏi các tù nhân cũ và gia đình thân nhân của họ là họ nghĩ xem có bao nhiêu tù nhân. (Tôi nghi là họ đã cộng lại tổng số của các câu trả lời). Sự thật thì thời đó chỉ có khoảng 35 ngàn tù nhân trong tất cả các nhà tù của Miền Nam.
Tôi cũng gặp một lãnh tụ khác của “lực lượng thứ ba” là bà Ngô Bá Thành, người nói với tôi rằng định nghĩa của bà về “tù nhân chính trị” có thể gồm cả người nh­ Sỉrhan Sirhan, là tay cán bộ người Palestine đã ám sát nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng Sáu năm 1968. Mục đích của hắn, bà Ngô Bá Thành giải thích là, “chính trị” khi hắn ám sát một ứng cử viên Tổng thống rất nổi tiếng của Hoa Kỳ .
Rồi còn vụ “chuồng cọp” đầy tai tiếng tại Côn Sơn, được họ mô tả như sau:
,”… xà lim chôn dưới mặt đất với các đống sắt, đồng trên trần thay vì ở dưới. Mà trần xây thấp đến nỗi tù nhân không thể đứng được …”
.”… những hố nhỏ được đào dưới đất và che bằng chấn song sắt.”
- “[Mấy hầm đó] quá hẹp cho những người Việt Nam dù thấp bé cũng không thể nằm duỗi thẳng và trần quá thấp nên tù nhân khó có thể đứng thẳng người”
Thật ra, tôi có đến đảo Côn Sơn và thăm những chuồng cọp này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng đồng ý là tôi hơi cao hơn đa số người Việt Nam. Vậy mà tôi chưa thể với tới các chấn song trên trần - vốn cao tới ba thước (khoảng 10 bộ) kể từ mặt đất lên.
Ngay cả lực sĩ Nghiêu Minh (Yao Minh) người Tầu - tay trung phong của đội bóng rổ Rocket's ở Houston bên Texas -cũng chỉ cao tới bảy bộ và sáu phân hơn hai thước hai - nên anh ta cũng chẳng gặp khó khăn gì đề duỗi dài trong căn xà lim một bề thước rưỡi một bề ba thước của cái gọi lả “chuồng cọp”.
Ít nhất, một số cán bộ chống Việt Nam đã từng cáo giác chuyện “chuồng cọp” biết là họ nói láo. Trước khi qua Việt Nam năm 1974, tôi nói với một người trong số này rằng tôi dự tính sẽ tới nhà tù Côn Sơn đề tự minh xem tận mắt và anh ta có vẻ khó chịu – có lẽ biết rằng tôi sẽ thấy sự thật. Anh ta nói rằng vấn đề thật bây giờ chính là tại nhà tù Chí Hòa ở Sài Gòn.
Vì vậy sau khi thăm Côn Sơn, tôi xin phép vào xem nhà tù Chí Hòa và chưa đầy 48 tiếng sau đã được tới đó trong mấy tiếng đồng hồ. Đây không là nơi mà mình thích sống nhưng cũng chẳng tệ hơn đa số các nhà tù và bên trong tôi không thấy dấu vết gì của những sự lạm dụng phổ biến. Tôi nói riêng với vài người Mỹ đã từng ở trong này và họ nói rằng dù có nghe nhiều lời tố cáo nhưng tất cả đều cho biết là họ không hề nghe thấy “tiếng gào thét trong đêm vắng” hoặc được báo cáo về nạn tra tấn hay hành hạ tù nhân.

NGĂN CHẬN TÀN SÁT
Bi thảm nhất của những người chống Việt Nam là lý luận của họ, rằng cắt viện trợ cho Miền Nam là Hoa Kỳ sẽ “ngăn được nạn tàn sát”. Họ sai lầm tới chừng nào. Ông bạn Giáo sư R.J. Rummel của tôi (một người từng được tuyển liên tiếp cho giải Nobel Hòa Bình) ước lượng là tổng số người bị giết sau khi miền Nam được “giải phóng” lên tới 643 ngàn.
- Khoảng 100 ngàn bị xừ tử qua quít ngay sau khi Cộng sản nắm quyền. Qua quít vì cũng chẳng có một hình thức tạm bợ về “tiến trình hợp pháp” hay một toà án.
- Giáo sư Rummel cho là 400 ngàn là “thuyền nhân” bị chết ngoài biển cả khi muốn thoát khỏi chê độ độc tài và đàn áp đã trùm lên quê hương. Cao ủy Ty nạn của Liên hiệp quốc thì cho là một phần ba những người vượt biên bằng thuyền đã chết ngoài biển một số là vì tầu quá đông người bị chìm, hoặc chết vì đói, vì khát. Nhiều người tử nạn sau khi bị hải tặc cướp bóc và cưỡng hiếp. Cao ủy cũng tường trình rằng có khoảng 840 ngàn người tới được Hong Kong hay các nước không Cộng sản ở Đông Nam Á. Nếu áp dụng tỷ số “chết một phần ba” cho con số này thì ta đoán là có một triệu 300 ngàn người vượt biên bằng thuyền và khoảng 420 ngàn người đã chết trên đường tìm tự do. Con số không xa với ước lượng của Giáo sư Rummel.
Giáo sư Lewia Sorley, tác giả cuốn sách có giá trị của một dấu mốc là “A Better War” - một Cuộc Chiến Khá Hơn - mà tôi ân cần giới thiệu đến quý vị, cho rằng có chừng 250 ngàn sĩ quan và binh lính của miền Nam cũ đã chết trong các “Trại Cải Tạo” do chế độ Cộng sản lập ra.
- Khoảng một triệu rưởi người dân miền Nam bị đày vào các khu “Kinh Tế Mới” để sống trong những điều kiện nghiệt ngã và chừng 48 ngàn đã chết tại đấy. Tôi biết rằng rất đông người trong cộng đồng này có thể kể lại những kinh nghiệm thật về “Trại Cải Tạo” và khu “Kinh Tế Mới” và khuyên các sinh viên ở đây nên tìm ra họ, ghi nhận câu chuyện của họ để làm chứng liệu cho lịch sử.
CĂM BỐT
Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa.
Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yêm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”. Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” - Protocole States - đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954. Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương. quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào. Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization). Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khờme Đỏ. Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khờme của họ thật ra chẳng còn là bí mật. Và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là đễ cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt. Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết.
Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy. Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho lả có hơn hai triệu. Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người - hơn 20% dân số toàn quốc.
Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí Nattonal Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản giọng chúng vào thân cây”.
Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước l­ợng dè dặt nhất, có nhiều thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam hơn là tổng số nạn nhân trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu... Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.
Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nêu như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ. Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện. Chúng ta phải kể lại chuyện này - một cách chính xác và cẩn trọng – đểngười khác sẽ biết rất lau về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa. Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.
Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại. Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism” - Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản”. Do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.
Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.
Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thận tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu. Nhưng khi đa số của Quốc hội phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. Họ cũng phản bội sự hy sinh của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.
Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra. Nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín. Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chịa sẻ với ng­ười khác. Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội. Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí.
Xin cảm tạ quý vị và cầu xin Thượng Đế sẽ phù hộ chúng ta./.

(Vikhoi fw)